Khám phá kiến trúc độc đáo của nhà Rông Tây Nguyên

Nhắc đến lịch sử cư trú và đời sống văn hóa của các dân tộc vùng núi Tây Nguyên, không thể không nhắc đến nhà Rông - biểu tượng của đại ngàn, của sức mạnh cộng đồng. Đặc biệt, nhà Rông còn được biết đến là công trình kiến trúc đặc sắc, di sản văn hóa phi vật thể với giá trị thẩm mỹ cao cũng như ẩn chứa nhiều văn hóa tâm linh bền vững.


1. Vị trí xây dựng nhà Rông


Việc xây dựng nhà Rông chưa bao giờ là đơn giản, ngược lại, phải tuân theo những nghi thức hết sức trang trọng. Và những người được tham gia vào việc bàn bạc, thảo luận phải là những người tài giỏi nhất nhì trong làng. Trong số những việc cần làm khi xây dựng nhà Rông thì việc chọn vị trí là quan trọng nhất bởi nó quyết định đến tính vững chãi của nhà Rông cũng như thuận tiện cho mọi sinh hoạt của bản làng.


Theo đó, vị trí được chọn để xây dựng nhà Rông phải là trung tâm, mùa nắng khô ráo và thoáng mát, mùa đông sạch sẽ và ấm áp. Đặc biệt, diện tích xây dựng phải rộng lớn để đủ sức chứa mỗi khi người của làng tập trung tổ chức ăn uống, lễ hội, cúng bái. Trên khu đất này, tùy thuộc tài chính và độ tài hoa mà có thể cất nhà Rông to hay nhỏ, cao hay thấp cho phù hợp.

 





2. Hình dáng, kích thước nhà Rông


Hình dáng, kích thước nhà Rông không cố định mà phụ thuộc vào đặc trưng của từng dân tộc như sức mạnh cộng đồng, ý nguyện dân tộc, khả năng tài chính, điều kiện tự nhiên,.. Nhà Rông Tây Nguyên được chia thành 2 loại rõ rệt là nhà Rông trống và nhà Rông mái, trong đó, nhà Rông trống cao hơn, hoành tráng hơn.


Nổi bật nhất trong thiết kế kiến nhà Rông có lẽ là phần mái. Thoạt nhìn, chúng ta sẽ thấy phần mái hơi to so với tổng thể nhà Rông, nhưng thực tế lại thanh thoát đến kỳ lạ, giúp tổng thể nhà Rông trở nên nổi bật giữa không gian đại ngàn bao la, hun hút.


Phần mái của nhà Rông được nhiều người ví như cánh buồm căng gió ra khơi, nhưng cũng khiến chúng ta liên tưởng đến hình ảnh chiếc rìu vươn cao lên trời như lời thách thức. Đặc biệt, chúng không phải là một mặt phẳng như chúng ta nhìn thấy, mà được cấu trúc theo hình elip để có thể tránh sức gió, giúp nhà Rông luôn bền vững. Điều này cho thấy sự tính toán vô cùng tinh tế và thông minh của những người “sáng tạo” ra nhà Rông.


3. Vật liệu xây dựng nhà Rông


Để xây dựng nhà Rông, người làng không sử dụng các vật liệu hiện đại như sắt, thép hay hệ thống máy móc. Thay vào đó, họ dùng những vật liệu thiên nhiên, xuất phát từ rừng núi như gỗ cây, mây, tre, nứa, lồ ô, lá tranh,… và sử dụng sức người là chủ yếu. Để tạo sự kiên cố và chắc chắn, mái nhà được lợp thành nhiều lớp bằng lá tranh, còn cột nhà được làm từ những loai gỗ tốt như trắc, hương,…





4. Cách trang trí nhà Rông


Kiến trúc độc đáo thu hút người nhìn một thì những họa tiết trang trí nhà Rông hấp dẫn người nhìn mười. Có thể thấy, người làng vô cùng tỉ mỉ và kỳ công trong việc sáng tạo những họa tiết, hoa văn để trang trí cho nhà Rông. Cụ thể, trên các vì kèo là những hoa văn được chạm khắc tinh xảo, thể hiện tín ngưỡng tôn giáo, sự tích huyền thoại hay hình thù các con vật cách điệu,…


Hoa văn trang trí trên phên vách và thanh xà nổi bật với 2 màu sắc xanh và đỏ. Cặp sừng trâu treo giữa gian nhà chính được chạm khắc những ngôi sao 8 cánh hình thoi rất kỳ công. Ngoài ra, các hiện vật, vũ khí như trống, cồng, chiêng, cung tên, giáo mác,… cũng được treo một cách trang trọng bên trong nhà Rông, vừa biểu tượng sự thiêng liêng, vừa thể hiện niềm tự hào của buôn làng.


Đặc biệt, khi có lễ hội, người làng sẽ cùng nhau dựng cây cột cao, trên thân cây cột được chạm khắc hình mặt trời, sao 8 cánh, hình thoi,… sáng chói. Nối liền cây cột này là những cây cột khác thấp hơn, chạy theo chiều dài của nhà Rông. Thường thì nhà Rông trống sẽ được trang trí công phu hơn nhà Rông mái.


Tóm lại, kỹ thuật xây dựng và kiến trúc nhà Rông là vô cùng đặc biệt, cho thấy sự tài hoa của cộng đồng dân tộc thiểu số. Thoạt nhìn, nhà Rông có vẻ mộc mạc và thô ráp nhưng kỳ thực, lại vô cùng tinh tế và vững chãi. Không quá khi nói rằng nhà Rông chính là thành tố quan trọng nhất để định hình bản sắc văn hóa Tây Nguyên. Đồng thời cũng là mồ hôi, nước mắt, niềm tin và ước vọng chinh phục thiên nhiên của con người.

Lê Trinh